TÔN VINH CỘI NGUỒN - KẾT NỐI THỜI ĐẠI

Theo dõi chúng tôi trên các nền tảng

Nóng cùng VTV8

Tấm gương trí tuệ và hành động của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Nam Phong 01/03/2026 22:28 GMT+7

vtv8.vtv.vn - Giản dị trong đời sống, điềm đạm trong phong cách và bền bỉ trong công việc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng là hình mẫu tiêu biểu của người lãnh đạo gắn tư duy lý luận với hành động thực tiễn. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, ông để lại dấu ấn sâu đậm bằng những quyết sách thiết thực, phụng sự Tổ quốc và nhân dân.

Từ một thanh niên sớm dấn thân vì độc lập dân tộc đến người đứng đầu Chính phủ suốt hơn ba thập kỷ, Phạm Văn Đồng luôn thể hiện tầm vóc của một nhà lãnh đạo lớn được hun đúc từ sự khiêm nhường, tinh thần trách nhiệm và lòng tận tụy với đất nước.

Tấm gương trí tuệ và hành động của Thủ tướng Phạm Văn Đồng- Ảnh 1.

Sinh năm 1906 trong một gia đình trí thức tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi), ông sớm tiếp cận tư tưởng tiến bộ và hòa mình vào phong trào yêu nước khi còn học tại Quốc học Huế và Trường Bưởi. Những cuộc bãi khóa, hoạt động để tang các chí sĩ yêu nước đã đánh dấu lựa chọn dấn thân có ý thức của người thanh niên yêu nước. Năm 1926, được tham dự lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy, ông chính thức bước vào con đường cách mạng.

Những năm hoạt động ở Nam Kỳ, rồi quãng thời gian bị bắt, kết án mười năm tù và đày ra Côn Đảo là thử thách khắc nghiệt đối với người chiến sĩ trẻ. Tuy nhiên, chốn lao tù không khuất phục được ý chí của ông mà trở thành môi trường rèn luyện bản lĩnh, trau dồi tri thức và lý luận. Ra tù giữa năm 1936, dù bị quản thúc, ông vẫn tìm cách liên lạc với Đảng, tham gia viết báo, vận động trong phong trào Mặt trận Dân chủ.

Từ năm 1940, khi làm việc bên cạnh Nguyễn Ái Quốc tại Côn Minh và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, ông tiếp tục khẳng định vai trò của mình. Trở về Cao Bằng năm 1941, ông tham gia xây dựng Mặt trận Việt Minh, phụ trách báo Việt Nam độc lập, góp phần chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa. Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, ông giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Tài chính trong Chính phủ lâm thời, được Quốc hội khóa I bầu làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội, đánh dấu bước chuyển từ nhà hoạt động cách mạng sang trọng trách điều hành đất nước trong hoàn cảnh đầy thử thách.

Trong kháng chiến, ông đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Đặc phái viên của Trung ương và Chính phủ tại Nam Trung Bộ, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng và sau đó là Thủ tướng Chính phủ. Ở mọi cương vị, ông luôn làm việc thận trọng, chắc chắn, ít nói nhưng hành động quyết liệt, xuất phát từ thực tiễn.

Hơn 30 năm đứng đầu Chính phủ, ông đặc biệt coi trọng việc xây dựng bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nhấn mạnh sự gắn bó chặt chẽ giữa dân chủ và tập trung. Ông hướng tới xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân; tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả; thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, chăm lo đời sống nhân dân.

Trong lĩnh vực kinh tế, ông trăn trở trước những hạn chế của cơ chế cũ. Sau ngày đất nước thống nhất, giữa muôn vàn khó khăn, ông chỉ đạo từng bước đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ dần bao cấp quan liêu, mở đường cho tư duy đổi mới. Không chỉ là nhà lãnh đạo thực tiễn, ông còn là nhà lý luận chính trị, văn hóa sâu sắc. Ông coi báo chí là vũ khí cách mạng, để lại nhiều bài xã luận, chuyên luận ngắn gọn, súc tích, gắn chặt nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ.

Trong văn hóa và giáo dục, ông nhìn nhận văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực phát triển; đặc biệt quan tâm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Với giáo dục, ông đề cao tính toàn diện, nhấn mạnh “dạy người trước khi dạy chữ”, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là tương lai dân tộc.

Ông cũng là người đặt nền móng cho việc nghiên cứu, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ tác phẩm “Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc” (1948) đến nhiều công trình sau này, ông góp phần hệ thống hóa, làm rõ giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặt nền tảng cho chuyên ngành Hồ Chí Minh học ở Việt Nam.

Trên lĩnh vực đối ngoại, tài năng của ông được thể hiện nổi bật tại Hội nghị Geneva 1954. Với lập luận chặt chẽ, phong thái điềm tĩnh nhưng sắc sảo, Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tạo dấu ấn sâu đậm trên trường quốc tế. Nhiều năm giữ cương vị Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, ông góp phần quan trọng vào việc hoạch định đường lối đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế cho công cuộc giải phóng và xây dựng đất nước.

Điều đọng lại sâu sắc nhất trong chân dung Phạm Văn Đồng chính là tấm gương đạo đức cách mạng: sống giản dị, liêm khiết, khiêm nhường; gần gũi với cán bộ, nhân dân; thẳng thắn nhận trách nhiệm, tự phê bình khi công việc chưa đạt yêu cầu; chân thành với trí thức, văn nghệ sĩ và bạn bè quốc tế.

75 năm hoạt động cách mạng liên tục, 41 năm là Ủy viên Trung ương, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm đứng đầu Chính phủ – những con số ấy phản ánh chiều dài cống hiến to lớn. Kỷ niệm 120 năm ngày sinh của ông (1/3/1906 – 1/3/2026) là dịp để thêm trân trọng một nhân cách lớn – biểu tượng của trí tuệ gắn với hành động, của sự bền bỉ, liêm chính và tận tụy vì nước, vì dân.

Bình luận

0

Bạn cần đăng nhập để thực hiện chức năng này!

Bình luận không đăng nhập

Bạn không thể gửi bình luận liên tục.
Xin hãy đợi 60 giây nữa.