Bàn ghế học đường lệch chuẩn: Khi chính sách trễ nhịp với thực tiễn thể trạng
Sự khập khiễng giữa thiết bị học tập và thể trạng người học đang diễn ra phổ biến tại nhiều cơ sở giáo dục từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông. Qua thống kê sơ bộ từ hơn 30 tỉnh, thành phố, cả nước hiện có khoảng 125.000 học sinh có chiều cao vượt mốc 1,75 m. Khảo sát thực tế tại các trường học như THPT Ông Ích Khiêm (TP. Đà Nẵng) hay THCS Trần Cao Vân (TP. Huế) ghi nhận nhiều em học sinh phải xoay xở mỗi ngày trong môi trường học đường với những bộ bàn ghế có kích thước quá nhỏ so với cơ thể.
Theo đó, nguyên nhân nằm ở khoảng cách về mặt thời gian của các văn bản pháp lý. Chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với bàn ghế học sinh hiện vẫn đang thực thi theo Thông tư liên tịch số 26 do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Y tế phối hợp ban hành từ năm 2011. Khung tiêu chuẩn này đã trải qua 15 năm áp dụng mà chưa có sự điều chỉnh toàn diện. Cụ thể ngưỡng kích thước cao nhất trong bộ chuẩn 2011 chỉ tính cho học sinh có chiều cao tối đa đến 1,75 m. Như vậy, đồng nghĩa với việc toàn bộ 125.000 học sinh có thể trạng vượt chuẩn nêu trên hoàn toàn nằm ngoài các danh mục thiết bị học đường hợp chuẩn hiện hành.
Tình trạng học sinh phải ngồi gò bó, khom lưng hoặc bó gối liên tục từ 4 đến 6 tiếng mỗi ngày dẫn đến những nguy cơ tổn hại sức khỏe dài hạn. Các khảo sát y tế học đường chỉ ra rằng việc ngồi sai tư thế do thiết bị không tương thích là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra tật cong vẹo cột sống, suy giảm thị lực và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển hình thể sinh lý tự nhiên của lứa tuổi học sinh.




Để viết được bài, những em học sinh này chỉ có thể ngồi khom lưng, bó gối liên tục 4 - 6 tiếng mỗi ngày
Nút thắt quy hoạch không gian và bài toán nguồn lực đầu tư
Giải bài toán thay thế bàn ghế không chỉ đơn giản là đặt hàng sản xuất các bộ thiết bị lớn hơn. Xử lý vấn đề này đòi hỏi phải đối mặt với các rào cản về hạ tầng kiến trúc học đường và ngân sách đầu tư công.
Về mặt không gian, theo quy chuẩn thiết kế trường học hiện hành, diện tích tối thiểu cần đạt từ 1,5 đến 2m² cho mỗi học sinh. Tuy nhiên, hệ thống trường học tại các đô thị lớn hoặc khu vực lâu đời đa phần được xây dựng từ 20 đến 30 năm trước. Các phòng học cũ có diện tích phổ biến chỉ từ 50 đến 65m² nhưng đang phải gánh sĩ số thực tế lên tới 45 đến 50 học sinh. Trong một diện tích cố định, nếu đưa các bộ bàn ghế rời có kích thước lớn hơn, khoảng cách giữa các hàng ghế lùi xa hơn để đáp ứng thể trạng mới, phòng học sẽ ngay lập tức rơi vào tình trạng quá tải diện tích, gây cản trở không gian di chuyển và thoát hiểm.
Về mặt tài chính, giải pháp triệt để là nâng cấp hoặc đập đi xây mới phòng học để mở rộng không gian đòi hỏi nguồn kinh phí khổng lồ, ước tính hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng cho mỗi địa phương. Việc phê duyệt ngân sách đầu tư công đòi hỏi quy trình phức tạp và sự tham gia phối hợp của nhiều cơ quan ban ngành, không thể hoàn thành trong một thời gian ngắn.
Mặt khác, tư duy trang bị đồng bộ theo kiểu "đồng phục" cũng đang tạo ra bất cập. Sự phát triển chiều cao của học sinh trong cùng một độ tuổi, thậm chí trong cùng một lớp học, có độ lệch rất lớn. Việc trang bị đồng loạt một kích thước cố định cho toàn bộ phòng học vô tình đẩy cả nhóm học sinh cao lớn lẫn nhóm học sinh có thể trạng nhỏ vào thế khó điều chỉnh tư thế ngồi phù hợp.


Giải bài toán thay thế bàn ghế không chỉ đơn giản là đặt hàng sản xuất các bộ thiết bị lớn hơn
Đổi mới không gian học đường: Từ quy chuẩn cố định sang giải pháp thích ứng
Để giải quyết bài toán lệch pha thể trạng, ngành giáo dục và chính quyền các địa phương cần chuyển từ tư duy quản lý cứng nhắc sang các giải pháp mang tính thích ứng cao.
Trải nghiệm thực tế tại một số đơn vị như Trường Tiểu học Trưng Trắc (TP. Hồ Chí Minh) gợi mở một hướng đi khả thi: chuyển đổi sang sử dụng các loại bàn ghế có chức năng điều chỉnh độ cao linh hoạt. Mặc dù cơ sở vật chất nhà trường đã qua hơn 30 năm sử dụng, việc trang bị hệ thống thiết bị nâng hạ cho phép nhà trường chủ động điều chỉnh kích thước theo từng lứa tuổi và sự thay đổi thể trạng của học sinh qua các năm học, giảm thiểu chi phí thay mới liên tục.
Ở cấp độ chỉ đạo vĩ mô, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai các biện pháp chấn chỉnh trên phạm vi toàn quốc. Văn bản chỉ đạo mới nhất yêu cầu các địa phương thực hiện tổng rà soát hiện trạng thiết bị dạy học. Đáng chú ý là việc quy định quy trình chuẩn 6 bước: ngay đầu mỗi năm học, các trường phải tổ chức đo chiều cao thực tế của từng học sinh để bố trí mã số bàn ghế phù hợp, loại bỏ việc sắp xếp chỗ ngồi cảm tính. Đối với nhóm học sinh cao trên 1,75 m, Bộ giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và Sở Khoa học và Công nghệ trực tiếp khảo sát để đặt hàng thiết kế các bộ thiết bị đặc thù.


Trang bị hệ thống thiết bị nâng hạ cho phép chủ động điều chỉnh kích thước theo từng lứa tuổi,thể trạng
Bàn ghế chuẩn hóa và tầm nhìn chiến lược cho thể trạng thế hệ tương lai
Thực trạng bàn ghế học đường lệch chuẩn là một điểm nghẽn phản ánh sự thiếu đồng bộ giữa các chính sách phát triển thể chất quốc gia và việc chuẩn hóa cơ sở vật chất hạ tầng. Chiến lược phát triển tầm vóc, thể lực người Việt Nam không thể đạt hiệu quả tối ưu nếu môi trường sinh hoạt và học tập hằng ngày của học sinh vẫn bị bó hẹp trong những quy chuẩn cũ kỹ.
Việc khẩn trương nghiên cứu lại dữ liệu nhân trắc học học sinh Việt Nam để sửa đổi, bổ sung Thông tư 26 là bước đi cấp thiết về mặt thể chế. Đồng thời, các kế hoạch trung và dài hạn về quy hoạch mạng lưới trường lớp cần tính toán đến dư địa phát triển thể chất của học sinh trong 20-30 năm tới.
Đầu tư cho một chỗ ngồi chuẩn xác, an toàn và thoải mái cho học sinh không chỉ đơn thuần là việc trang bị một tài sản vật chất trong trường học. Đó là khoản đầu tư trực tiếp vào sức khỏe học đường, hình thể và năng lực học tập của thế hệ tương lai – yếu tố cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
Quý khán giả xem truyền hình trực tuyến của kênh VTV8 tại: https://vtvgo.vn/channel/vtv8-1,36.html
Bình luận
0