Quan điểm trên được TS Nguyễn Quân, Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ, chia sẻ bên lề hội thảo “Cơ hội và Chính sách hỗ trợ Doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ” tổ chức chiều 27/1.

Theo ông, thuật ngữ “doanh nghiệp khoa học và công nghệ” đã xuất hiện gần 20 năm và Việt Nam cũng đã nỗ lực triển khai mô hình này trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, sau thời gian dài, hiệu quả đạt được vẫn chưa như kỳ vọng.
“Con đường đưa khoa học công nghệ vào đời sống, vào sản xuất, về bản chất phải đi qua doanh nghiệp”, ông Quân nhấn mạnh, bởi doanh nghiệp là nơi ứng dụng công nghệ để tạo ra sản phẩm mới phục vụ xã hội.
Ông cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở cơ chế chuyển giao kết quả nghiên cứu. Phần lớn các kết quả khoa học công nghệ của Việt Nam xuất phát từ các viện nghiên cứu và đơn vị nhà nước. Khi chuyển sang doanh nghiệp, bài toán đặt ra là làm thế nào để chuyển quyền sở hữu từ nhà nước sang tư nhân một cách hợp pháp, thuận lợi, đồng thời vẫn thu hồi được phần vốn đầu tư của Nhà nước.
Theo TS Nguyễn Quân, Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn này. Vấn đề tiếp theo là cần thể chế hóa bằng các luật, nghị định, thông tư cụ thể, tạo điều kiện để nhà khoa học dễ dàng chuyển giao kết quả nghiên cứu cho doanh nghiệp.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Trần Thanh Việt, CEO Vgreen – đơn vị ứng dụng khoa học để phát triển các sản phẩm dinh dưỡng – cho biết việc được công nhận là doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã mang lại những thay đổi rõ rệt. Thương hiệu được tin tưởng hơn, đối tác đánh giá cao hơn, hệ thống phân phối mở rộng và sản lượng tiêu thụ tăng gấp đôi so với năm trước.

Tuy vậy, bà cũng thừa nhận doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận chính sách do nhiều quy định còn phức tạp, thuật ngữ chuyên môn khó hiểu và thiếu đơn vị hướng dẫn, đồng hành. Theo bà, việc tháo gỡ các rào cản này là cần thiết để củng cố hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Làm rõ hơn về khung chính sách, TS Phạm Thế Dũng, Phó Tổng thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam, cho biết Nhà nước hiện tập trung hỗ trợ bốn nhóm doanh nghiệp gồm doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khoa học và công nghệ và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Trong đó, hai nhóm sau được xem là động lực của hệ sinh thái.
Doanh nghiệp khoa học và công nghệ là những đơn vị thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, có khả năng hấp thụ, làm chủ công nghệ và tạo ra hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường.
Các điều kiện công nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã được thiết kế phù hợp hơn với từng quy mô. Doanh nghiệp lớn phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể về chi cho khoa học công nghệ, bộ phận R&D và tỷ lệ doanh thu từ sản phẩm khoa học công nghệ, trong khi doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ có tiêu chí linh hoạt hơn.
Chính sách hỗ trợ cũng đang chuyển dần sang cách tiếp cận hệ sinh thái, với nhiều trục hỗ trợ như nâng cao năng lực nghiên cứu, hỗ trợ tài chính, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ và tạo cơ hội tham gia các chương trình khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Theo TS Phạm Thế Dũng, cách tiếp cận này giúp giảm chi phí, giảm rủi ro và khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.

Bình luận
0