Thông tin trên được Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương chia sẻ tại họp báo thường kỳ của Bộ sáng 29/1. Theo ông, Bộ cùng Bộ Nội vụ đã xây dựng các cơ chế nhằm thu hút tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng cho các chương trình, đề án khoa học công nghệ quan trọng, nhưng kết quả đạt được vẫn chưa như kỳ vọng. “Chúng tôi rất mong muốn tìm được những người như vậy nhưng đến nay vẫn chưa có”, Thứ trưởng nói.

Bên cạnh những khó khăn khách quan như cơ sở vật chất và hạ tầng phục vụ nghiên cứu còn thiếu và cần nâng cấp, lãnh đạo Bộ cho rằng một nguyên nhân đáng chú ý đến từ tâm lý e dè của chính các nhà khoa học trong nước.
Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thiện hệ thống pháp lý với nhiều quy định mới, hướng tới mục tiêu tin tưởng và trao quyền cho đội ngũ trí thức. Các chính sách nhấn mạnh quyền tự chủ học thuật, cho phép nhà khoa học trực tiếp tham gia khai thác, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu – những quyền lợi trước đây chưa được bảo đảm đầy đủ. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương, chỉ riêng chính sách là chưa đủ khi nhiều người vẫn còn băn khoăn, chưa dám bước ra khỏi “vùng an toàn”.
Một nguyên nhân khác được nêu là sự khác biệt trong cách tiếp cận chính sách giữa tổ chức trong nước và quốc tế. Trong khi các doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài thường nghiên cứu kỹ các quy định ngay từ giai đoạn dự thảo, nhiều đơn vị và nhà khoa học trong nước lại chưa kịp cập nhật dù văn bản đã có hiệu lực. Lãnh đạo Bộ khuyến nghị các nhà khoa học cần chủ động tìm hiểu, nắm bắt quy định mới và mạnh dạn vượt qua tâm lý an toàn.
Làm rõ khái niệm “vùng an toàn”, Phó vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và công nghệ Hoàng Anh Tú cho biết đó là môi trường mà rủi ro khoa học – công nghệ được chấp nhận, nhưng rủi ro pháp lý, tài chính và trách nhiệm phải được kiểm soát ở mức gần như bằng không. Khi bảo đảm được điều này, nhà khoa học mới có thể yên tâm theo đuổi các nghiên cứu đột phá.
Theo ông Tú, hai điểm nghẽn lớn trong quản trị rủi ro nghiên cứu hiện nay là thể chế và tâm lý. Về thể chế, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cùng các nghị định hướng dẫn đã quy định chi tiết việc quản trị rủi ro xuyên suốt từ khâu đề xuất, thực hiện đến đánh giá nhiệm vụ. Nghị định 265 cũng quy định nếu đề tài không đạt mục tiêu ban đầu, tổ chức chủ trì không phải hoàn trả kinh phí; đồng thời được miễn trách nhiệm dân sự, kể cả hình sự nếu thực hiện đúng quy định và quy trình.
Đối với rào cản tâm lý, Bộ sẽ tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro liên tục, tổ chức thí điểm và tập huấn để giải thích rõ các quy định pháp luật. Một nền tảng số quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được xây dựng, cho phép toàn bộ quy trình từ đăng ký, triển khai đến nghiệm thu thực hiện trực tuyến, bảo đảm công khai và giám sát thường xuyên nhằm hạn chế rủi ro.
Trong các chương trình công nghệ chiến lược và nhiệm vụ khoa học trọng điểm, Bộ dự kiến lựa chọn một số đề tài có độ rủi ro khoa học cao để triển khai thí điểm, đồng hành cùng nhà khoa học trong quá trình vượt ra khỏi “vùng an toàn”.
Trước thực tế nhiều nhà khoa học còn thận trọng, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng thay đổi cách tiếp cận, từ chờ đề xuất sang chủ động tìm kiếm và thúc đẩy. Bộ đã làm việc với tỉnh Điện Biên và một số doanh nghiệp công nghệ để thí điểm mô hình sandbox, đồng thời tổ chức các cuộc thi tìm kiếm ý tưởng trong cộng đồng khoa học. Những ý tưởng tiềm năng nhưng chưa hoàn thiện sẽ được hỗ trợ để phát triển thành sản phẩm cụ thể.
Theo Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương, thay vì chỉ chờ đợi, cơ quan quản lý sẽ chủ động “kéo” nhà khoa học ra khỏi vùng an toàn.
Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng cảnh báo nguy cơ thiếu hụt chuyên gia đầu ngành và tổng công trình sư trong các lĩnh vực công nghệ mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học.
Số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy Việt Nam hiện có hơn 167.000 người làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, trong đó khoảng 84% tập trung ở khu vực nhà nước. Số nhân lực nghiên cứu quy đổi toàn thời gian đạt 72.991 người, tương đương trung bình 7,6 nhà nghiên cứu trên mỗi vạn dân, đứng thứ tư trong khu vực, sau Singapore, Malaysia và Thái Lan.

Bình luận
0